COOKOO
ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT
TRẢI NGHIỆM
SỰ KIỆN
PODCAST
CUỘC SỐNG CẢM HỨNG TƯ LIỆU GÓC NHÌN TẢN MẠN
THỜI TRANG ĐIỆN ẢNH ÂM NHẠC THỊ GIÁC
ẨM THỰC NIGHTLIFE ĐIỂM ĐẾN

AI GIỮ NHÀ CHO NGƯỜI ĐÃ CHẾT?

AI GIỮ NHÀ CHO NGƯỜI
ĐÃ CHẾT?

Từ xa, tiếng chuông mõ râm ran bò dọc con đường làng Đạo vào buổi chiều tà cô quạnh. Chúng tôi nhiều người đều gọi bà Trung là Mẹ, dù chẳng ai trong làng này máu mủ gì với bà. Gọi vậy cho tiện miệng. Với lại, gọi thế nghe có vẻ đạo đức.

Nhà bà Trung ở ngã ba làng Đạo. Ai đi qua cũng thấy. Ai cần gì cũng ghé. Từ bát cơm, chỗ ngủ, đến mấy lời khuyên chẳng rõ đúng sai. Bà Trung đều vô tư cho hết. Cho quen tay. Cho đến lúc chẳng còn gì ngoài tuổi già. Chúng tôi chỉ biết bà có ba thằng con trai. Biết rõ là đằng khác. Vì mỗi lần bà nhắc đến, bà đều nhắc đủ tên: Hoàng, Hồng, Hắc. Nhắc như sợ quên.

Ba cái tên nghe đã thấy đủ màu sắc cuộc đời. Hoàng thì hiền. Hay về làng. Sửa mái. Quét sân. Người ta bảo nó giống mẹ. Giống ở cái tính chịu phần thiệt về mình mà không nói. Hồng thì giỏi. Mỗi lần về làng là xe bóng loáng, áo quần sáng trưng. Người ta nói nó thành đạt. Thành đạt đến mức không cần về làng thường xuyên. Hắc thì chẳng ai dám gần. Người đâu vừa lầm lì ít nói. Nhìn cái mặt là biết chắc hẳn là hạng đầu gấu máu mặt. Chúng tôi nhìn ba anh em nó lớn lên. Nhìn chúng nó đi. Rồi nhìn chúng nó về - mỗi đứa một kiểu.

Bà Trung già dần. Chúng tôi biết. Vì bà ngồi ở bậc tam cấp mỗi chiều nhiều hơn, bà thường xuyên ngồi nhìn ra phía con đường làng Đạo - chỗ người ta đi ngang qua đời bà như đi qua một cái bóng. Bà ấy hay lặng lẽ khóc. Ai cũng biết bà buồn. Nhưng cũng chẳng ai rảnh để hỏi tại sao vì ai cũng bận sống.

Có hôm mưa to, bà ngồi co ro ở hiên. Có người đi ngang qua xin trú mưa hỏi bà:
- Sao bà không lên thành phố ở với con?

Bà chỉ cười mềm:
- Chúng nó bận.

Bận là chuyện dễ hiểu.

Rồi bà Trung chết đột tử vào một ngày không nắng, không mưa. Cái chết của bà giống như thời tiết hôm đó: không dữ dội, nhưng lạnh và trống rỗng. Chết không kèn trống. Không trăn trối. Không ai kịp về.

Chúng tôi đi viếng. Khóc lóc. Thở dài. Quệt nước mắt. Vái lạy. Nhét tiền phúng viếng vào hòm. Nói những câu chia buồn mẫu mực:
- Tội nghiệp bà.
- Cả đời nhân đức.
- Phúc đức để lại cho con cháu.


Nói xong thì về. Trong làng họ kháo nhau, thời còn tại thế, bà Trung tự hào và hay kể về ba thằng con trai lắm. Nhưng bà Trung chết sang đến ngày thứ hai rồi vẫn chưa thấy bóng dáng thằng con nào về lo ma chay cho mẹ. Đến đám tang này cũng là những người từng được bà Trung giúp đỡ vì ơn mà làm coi như đáp lễ đáp nghĩa, có trước có sau.

Cả ba thằng con ấy đều về muộn. Cả làng ai cũng buông lời trách móc sau lưng. Tang lễ diễn ra rất nhanh. Rất gọn. Không rề rà. 

Đến lễ Thất tuần, chúng tôi thấy ba anh em cãi nhau. Không nghe rõ. Nhưng nhìn cũng đoán được đại khái. Anh em mà. Có gì đâu. Nghe phong thanh rằng đã có cuộc lời qua tiếng lại tới mức ba anh em nhà này không thèm cả nhìn mặt nhau nữa. Mấy bà tám quanh nhà bà Trung đêm Thất tuần ấy nghe lỏm mà truyền tai nhau. 

Tôi cũng góp vui đứng đầu làng mà hóng chuyện. Người thì bảo lúc ấy trong nhà vẫn còn thầy tụng kinh, mõ gõ đều đều, tiếng kinh trôi qua đầu ba anh em như nước chảy qua mái ngói mục. Miệng đọc từ bi, tay thì lần tràng hạt, còn mắt thì liếc xuống cuốn sổ đỏ đặt trên bàn trà, sáng hơn cả nến.

Nghe đâu anh hai Hồng nói nhiều nhất. Nói bằng cái giọng quen phát biểu, câu nào cũng có “tinh thần”, “sứ mệnh”, “nhân ái”, nghe như thể nếu không làm theo thì là có tội với người đã khuất, mà làm theo thì công đức sẽ được ghi sổ ở đâu đó rất xa, rất cao. Mấy bà nghe lỏm bảo: anh ta nói thương mẹ mà mắt không rời khỏi căn nhà, cứ như thương phải có chỗ đứng, có bảng hiệu, có người chứng kiến.

Em út Hắc thì không nói nhiều. Nhưng mỗi lần nói là câu nào câu nấy sắc bén. Nghe bảo cậu ta bảo đạo lý mà không có kỷ cương thì chỉ tổ loạn. Cửa nhà mà mở cho tất cả thì trước sau cũng có ngày bị chiếm. Cậu ta không thích tụng niệm, cũng chẳng ưa ban ơn. Cái gì là của mình thì phải giữ. Ai không có phần thì đừng hòng bước vào. Nghe vậy mấy bà bĩu môi mỉa mai: đạo lý hơn người nhưng nói đến đâu là chia ranh giới đến đấy, thương thì phải có điều kiện, giúp thì lại phải đúng người, đúng phe.

Còn anh cả Hoàng thì im lặng lâu nhất. Người ta bảo anh Hoàng nọ ngồi nhìn mâm cơm chay nguội ngắt, nhìn đậu hũ lẻ tẻ, rau luộc tái, canh lõng bõng như thể đó mới là thứ khiến anh khó chịu hơn cả lời qua tiếng lại. Đến lúc anh lên tiếng thì lại tiếc thương mẹ, trách móc hai người em. Nào là mẹ chết vì buồn. Nào là cả đời mở cửa cho người ngoài mà lúc tuổi cao sức yếu thì không có con. Mấy bà nghe tới đó thì nín thở, vì nói thế khác gì lật bàn thờ, đem cái không tiện nói ra nói đúng lúc không ai muốn nghe.

Lúc ấy anh Hồng cười nhạt phèo, sẵng giọng kêu là người chết rồi thì không cần nhà, chỉ người sống mới cần. Rồi anh Hắc gật đầu rất nhanh, như thể chuyện đó hiển nhiên từ lâu. Rốt cuộc cuối cùng anh Hoàng đấy lưỡng lự vài hồi rồi cũng đồng ý.

Thế là từ chỗ tụng kinh cầu siêu, gian nhà biến thành chỗ phân xử. Kinh vẫn đọc. Hương vẫn cháy nghi ngút. Nhưng mỗi người nghe thấy một thứ khác nhau. Người nghe thấy công đức. Người nghe thấy quyền sở hữu. Người nghe thấy tội lỗi. Không ai nghe ra hay hiểu cho nguyện vọng gì của bà Trung cả.

Mấy bà tám ngồi ngoài rào nhà bà Trung vỗ vai nhau đều đồng tình rằng: ba anh em nhà nọ đều nói bằng giọng rất cao đạo đến là thế, nhưng càng nói thì nhà càng lạnh. Đến lúc im lặng thì chắc cũng không phải vì đã hiểu nhau, mà vì đã quyết không cần hiểu nữa.

Sáng hôm sau, người ta thấy ba anh em ra về ba hướng. Không chào. Không ngoái lại. Gian nhà đóng cửa sớm hơn mọi ngày. Trên bậc tam cấp không còn ai ngồi.

Chúng tôi nghe chuyện, gật gù. Ai mà chẳng có lý của người đó. Chỉ tiếc là đến lúc chia nhà thì mỗi người nhớ một điều khác nhau, còn điều mẹ sống cả đời giữ gìn cái gì thì không ai nhớ nổi. Sau đó, căn nhà với mảnh vườn được rao bán. Chúng tôi hơi tiếc. Nhưng tiếc kiểu lịch sự. Vì nhà ai thì người ấy quyết.

Ngày mà máy xúc về, chúng tôi đứng xa nhìn. Mái ngói vỡ. Tường đổ. Gian giữa sập xuống nghe cái rầm. Ba anh em nọ đứng nhìn căn nhà họ lớn lên mà trông đến là vô cảm. Người trong làng họ còn than tiếc chứ ba anh em nọ dường như chỉ đợi cho xong việc còn đi. 

Có người tặc lưỡi:
- Thời thế bây giờ nó thế.

Chúng tôi gật đầu. Thời thế là một thứ rất tiện để giải thích mọi chuyện. Sáu tháng sau, chỗ ấy mọc lên một khu chợ phân lô thành những gian nhỏ.

Chúng tôi mừng. Vì làng có chỗ để người ta mua bán qua lại. Có người nói:
- Con bà Trung làm được việc lớn.

Ngày khu chợ mở của đầu tiên, chúng tôi đi đông. Có băng rôn. Có hoa. Có người phát biểu. Có báo chí. Người con tên Hồng đứng cắt băng. Nói về mẹ. Nói hay lắm. Nghe mà thấy bà Trung sống lại thêm mấy chục năm nữa. Không ai hỏi bà nằm đâu. Vì hỏi thế kém vui.

Từ ngày có khu chợ ấy, làng đông đúc hơn. Có nhiều người lạ. Có muôn vạn đoàn lái buôn. Thế nhưng nó om sòm và nhộn nhạo không chịu nổi. Bỗng dưng những người quanh vùng lại ca thán nhớ về những ngày yên bình với căn nhà cổ của bà Trung với bóng dáng quen thuộc mỗi chiều. Chúng tôi thỉnh thoảng đi ngang qua, nhìn cái bảng hiệu sáng loáng treo ở cửa vòm cổng chợ, rồi lại đi.

Hàng xóm láng giềng lại bảo nhau:
- Bà Trung chắc mát lòng.

Nói thế cho yên tâm. Chứ nếu nghĩ kỹ, thì cũng chẳng biết bà có cần mát lòng hay không. Vì người chết rồi, cần gì nữa. Chúng tôi chỉ biết một điều chắc chắn - Nhà Mẹ mất rồi, còn chúng tôi thì vẫn ở đây. Sống tiếp. Và phải quen dần.

BÀI VIẾT:  MÂY | ẢNH:  MÂY | BIÊN TẬP:  MƯA | WEB:  LONG3020
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Mù Cang Chải MÙ CANG CHẢI: VẺ ĐẸP CỦA MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG TẢN MẠN ĐIỂM ĐẾN Vẻ đẹp mộc mạc, bình dị của thị trấn Mù Cang Chải trong những ngày bình thường.
Rèm RÈM TẢN MẠN Khi những ''bức tranh'' còn chưa kịp treo thẳng lên tường, sự thật đã lộ diện trước tiên - không phải trên mặt toan, mà trong cách con người đối mặt với nó.
C O O K O O