MÙ CANG CHẢI: VẺ ĐẸP CỦA
MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG
MÙ CANG CHẢI: VẺ ĐẸP CỦA
MỘT NGÀY BÌNH THƯỜNG
Đây là lần thứ hai tôi trở lại Mù Cang Chải. Khác với chuyến đi trước khi tôi tới Mù Cang Chải để nhảy dù ngắm lúa chín tới vụ thu hoạch vào tháng 9, lần này tôi đến thị trấn nhỏ này cũng với một mục đích rất rõ ràng: săn hoa.

Tôi đã biết từ lâu rằng mỗi độ cận Tết âm lịch, vùng núi Tây Bắc như Yên Bái, Hà Giang lại bước vào mùa hoa đào rừng nở rộ. Người H’Mông nơi đây gọi loài hoa ấy là pằng tớ dày. Những chùm hoa hồng ửng ngọt lịm bừng lên giữa sắc xanh trầm mặc của núi rừng hoang sơ, như những chùm mảnh vá rực rỡ giữa miếng vải xanh đục lạnh lẽo của lá cây rừng phủ sương. Sau nhiều năm lỡ hẹn, tôi khao khát được tận mắt chứng kiến vẻ đẹp ấy.
Tôi cẩn thận đối chiếu thời gian với những năm trước, theo dõi thời tiết từ nhiều tuần liền, tính toán kỹ lưỡng để có thể đến đúng lúc hoa đẹp nhất, trong những ngày nắng hiếm hoi của miền sơn cước. Tôi chọn tuần thứ hai của tháng Một. Tôi và những người bạn rời Hà Nội trong tâm thế háo hức, trên chuyến xe kéo dài gần sáu tiếng đồng hồ để lên thị trấn Mù Cang Chải. Nhưng vừa chạm ngõ Yên Bái, bầu trời đã bắt đầu sà xuống màn sương mỏng, kèm theo cơn mưa lâm thâm. Càng đi sâu vào quốc lộ 32, sương mù càng dày đặc, đến mức như trườn sát vào ô kính xe, tưởng chỉ cần mở cửa ra là có thể với tay chạm được.

Chúng tôi ngồi co ro tránh gió trong một quán ăn nhỏ ven núi khi đặt chân vào trung tâm thị trấn. Qua vài câu chuyện trò, tôi lặng người khi biết rằng mùa hoa đã kết thúc được vài ngày. Dẫu biết vậy nhưng thấy dọc đường vẫn còn lác đác vài cây đào chưa tàn hẳn, tôi vẫn cố chấp thuyết phục bạn bè lái xe thêm hơn hai mươi cây số, xuôi theo quốc lộ về phía đèo Khau Phạ, xuống chân núi gần bản La Pán Tẩn. Và rồi, tất cả chỉ để nhận lại lời lắc đầu nhẹ nhàng từ những cô gái bản địa: hoa đã tàn hết rồi. Năm nay là năm nhuận, cộng thêm thời tiết ấm lên khiến hoa nở sớm và tàn nhanh hơn mọi năm.

Trong lòng tôi thoáng một nỗi buồn mơ hồ. Nhưng kỳ lạ thay, khi mục tiêu “săn hoa” hoàn toàn tan biến, tôi lại bắt đầu nhìn thấy nhiều hơn. Một Mù Cang Chải rất khác hiện ra - không hoa, không lúa, không mùa vụ đặc biệt nào. Chỉ là một thị trấn miền núi trong một ngày rất đỗi bình thường. Mộc mạc, chân chất, và vì thế mà đẹp theo cách rất riêng.
HỒ THUỶ ĐIỆN KHAO MANG
Chúng tôi bon bon trên chiếc xe thuê từ thị trấn, men theo đường đèo lên phía Bắc thị trấn vào cuối chiều. Hồ thuỷ điện Khao Mang hiện ra vào lúc hoàng hôn như một khoảng lặng dịu dàng của núi rừng. Mặt nước xanh biếc như phỉ thuý, phẳng lặng, miên man và sâu thẳm, phản chiếu ảnh sắc đậm nhạt của những dải núi chập chùng bao quanh. In trên mặt hồ xanh biếc trong veo là những lụa mây mờ mỏng tang, hồng rực ánh tà sắp tắt đang chậm rãi vùi mình vào những phiến đồi xa tít tắp. Mảng mảng mờ xa, lớp lớp gần rõ như một bức tranh thuỷ mặc đượm buồn. Những triền đồi nối tiếp nhau, nhạt dần trong làn sương tà du đãng, khiến ranh giới giữa thực và mộng trở nên mong manh đến lạ.

Không khí se lạnh, trong trẻo, đủ để người ta hít một hơi thật sâu và thấy lòng mình bình thản. Nắng chiều mong manh nghiêng rạp loang trên mặt hồ. Sương dày giăng lững lờ trôi nổi, không rõ là sương, hay là hơi nước. Đứng trước hồ Khao Mang khi ấy, tôi có cảm giác thời gian đã tự nguyện dừng lại, nhường chỗ cho một vẻ đẹp yên ả, trầm tĩnh và thuần khiết đến nao lòng của miền cao.
RỪNG TRÚC TRÊN ĐỈNH NÚI
Chúng tôi đã thử cố gắng đi xe lên, nhưng con đường dốc đứng và liên tục ôm cua gắt khiến mọi nỗ lực trở nên bất khả. Bánh xe trượt nhẹ trên mặt đường xi măng lạnh ẩm, tay lái chòng chành giữa những khúc quanh gấp khúc, buộc chúng tôi phải dừng lại. Cuối cùng, chúng tôi đành xuống xe, chấp nhận rằng đoạn đường này không dành cho việc tự lái và tìm đến sự giúp đỡ của những người bản địa dưới chân núi.


Con đường dẫn vào rừng trúc uốn lượn men theo sườn núi, dài gần ba cây số, dốc cao và khúc khuỷu như thử thách sự kiên nhẫn của những người cầm lái. Tôi chòng chành ngồi ở yên sau xe máy một anh chàng người H’Mông mà vừa lo sợ, vừa phấn khích. Anh chàng líu lo trò chuyện với tôi bằng tiếng Kinh lơ lớ. Anh kể về cuộc sống của mình ở trên đỉnh núi như thế nào và anh cùng những người dân trên núi đã góp tiền, góp sức để xây con đường xi măng lên núi này ra sao. Càng lên cao, không gian càng tĩnh lặng, chỉ còn tiếng gió lùa qua tán cây rừng. Đi càng sâu vào trong núi, đường càng hẹp và quanh co. Một bên là vách, một bên là vực.

Sau chặng đường dài và nguy hiểm, chúng tôi mới đặt chân tới trước lối nhỏ đường đất vào rừng trúc. Trúc mọc bạt ngàn, thân cao vút, thẳng tắp, vươn lên che kín bầu trời bằng một sắc xanh lục sâu thẳm. Ánh sáng len lỏi qua những phiến lá mảnh khảnh, vỡ vụn thành những tia sáng mờ ảo rơi xuống mặt đất ẩm bết sương. Giữa không gian ấy, mọi âm thanh dường như bị hút cạn, chỉ còn lại tiếng gió phiêu du giữa những thân trúc và tiếng lá trên ngọn nghiêng ngả xào xạc. Cảm giác huyền bí, như thể tôi đang bước vào một thế giới khác - nơi rừng trúc lặng lẽ đứng canh giữ thời gian, còn con người chỉ là kẻ ghé qua, nhỏ bé và im lặng trước vẻ đẹp nguyên sơ của núi rừng.
NGƯỜI DÂN BẢN ĐỊA
Giữa núi rừng Mù Cang Chải, đời sống của người H’Mông hiện lên bình dị và lặng lẽ, như một phần tự nhiên không thể tách rời khỏi đất trời nơi đây. Những cô gái H’Mông bước qua con dốc nhỏ với dáng đi mềm mại, xúng xính trong váy áo thêu rực rỡ. Mái tóc dài óng đen buông sau lưng, hai má ửng hồng vì cái lạnh vùng cao, nổi bật trên làn da nâu bóng, khoẻ khoắn của những người lớn lên cùng gió núi và nắng sương. Trong ánh mắt họ có sự trong veo rất riêng, vừa hồn nhiên vừa sâu lắng.

Trái ngược với họ, những người đàn ông H’Mông cao gầy, khẳng khiu, vai áo sờn bạc vì mưa nắng. Bùn đất bám đầy trên ống quần, trên đôi bàn tay chai sần, kể câu chuyện về những ngày dài trên nương rẫy. Họ ít nói, ánh nhìn trầm mạc và vững chãi. Tôi thường bắt gặp họ đang bận rộn làm việc hoặc đứng tựa bên hiên nhà gỗ như những cột mốc âm thầm giữ gìn bản làng giữa bao đổi thay của thời gian.

Trên sân đất nhỏ cạnh nhà dọc đường ven núi, thi thoảng tôi thấy thoăn thoắt bóng dáng lũ trẻ chạy chân trần, tiếng cười khúc khích vang lên trong làn sương lạnh. Chúng nô đùa, chơi trốn tìm cùng những chú chó con lông xù và đàn gà non lạch bạch theo sau. Cả không gian dường như được sưởi ấm bởi những âm thanh ấy. Giữa cảnh đời giản dị đó, tôi nhận ra một vẻ đẹp rất khác - không cần phô bày, không cần tô điểm - chỉ lặng lẽ tồn tại, bền bỉ và đầy sinh khí, như chính núi rừng đã nuôi dưỡng con người nơi đây qua bao thế hệ.


Và rồi, khi rời Mù Cang Chải, tôi chợt nhận ra chuyến đi này chưa bao giờ là một cuộc lỡ hẹn. Tuy chẳng săn được hoa như mong đợi, tôi lại được chứng kiến một Mù Cang Chải rất mộc mạc khi nơi này không khoác lên mình vẻ đẹp thường được tán thưởng của mùa lúa chín và mùa hoa nở; mà chỉ là một thị trấn miền cao trong những ngày bình thường, với sương mù, với hồ nước lặng, với rừng trúc thâm u, với những con người sống hoà mình vào thiên nhiên.
Trong cái bình dị ấy, Mù Cang Chải đã trao cho tôi nhiều hơn cả những gì tôi tìm kiếm ban đầu. Một vẻ đẹp không ồn ào, không phô trương, mà bình yên, lặng lẽ, đủ để khi tôi rời đi vẫn mang theo một cảm giác an lạc khó gọi tên. Mù Cang Chải, hoá ra đẹp không phải chỉ vì vào mùa vụ rực rỡ, mà còn đẹp trong cả những ngày rất đỗi bình thường.