COOKOO
ĐỜI SỐNG
VĂN HÓA
NGHỆ THUẬT
TRẢI NGHIỆM
SỰ KIỆN
PODCAST
CUỘC SỐNG CẢM HỨNG TƯ LIỆU GÓC NHÌN TẢN MẠN
THỜI TRANG ĐIỆN ẢNH ÂM NHẠC THỊ GIÁC
ẨM THỰC NIGHTLIFE ĐIỂM ĐẾN

HOẠ SĨ SƠN MÀI HOÀNG QUỲNH:
NGHỆ THUẬT THÔI NÔI TỪ NHỮNG ĐÁNH ĐỔI

HOẠ SĨ SƠN MÀI
HOÀNG QUỲNH: NGHỆ THUẬT THÔI NÔI TỪ NHỮNG
ĐÁNH ĐỔI

Sơn mài Việt Nam là một loại hình hội hoạ mang vẻ đẹp vi tế và trầm sâu, đòi hỏi ở người nghệ sĩ không chỉ kỹ thuật mà còn thời gian và sự nhẫn nại. Ẩn sau bề mặt bóng loáng, lấp lánh ấy là những ngày lao động miệt mài trong hơi hoá chất, bụi mài và những vết thương khó gọi tên. Theo chân nữ hoạ sĩ Hoàng Quỳnh - một trong những nghệ sĩ trẻ lựa chọn gắn bó với hội hoạ Sơn mài trong bối cảnh đương đại - tôi cảm nhận rõ tinh thần kính nghiệp và sự dấn thân của cô qua những chia sẻ về cái giá phải đánh đổi bằng sức khoẻ trong quá trình sáng tác, cũng như lý do vì sao ngọn lửa dành cho nghệ thuật Sơn mài trong cô vẫn cháy bền bỉ và rực sáng.

NHỮNG ĐÁNH ĐỔI THẦM LẶNG

Đằng sau những bức tranh sơn mài vân vi kì ảo là những ngày tháng nghiên cứu, lao động và cống hiến bền bỉ mà không phải ai cũng nhìn thấy. Càng ít người hiểu được những đánh đổi thầm lặng mà các hoạ sĩ sơn mài nói chung và Hoàng Quỳnh nói riêng buộc phải chấp nhận để tác phẩm của họ có cơ hội “được sống”.


Hoàng Quỳnh rời quê hương Thái Nguyên lên Hà Nội theo học ngành Hội hoạ Sơn mài tại trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam khi vừa tròn 18 tuổi. Niềm đam mê của nữ nghệ sĩ sinh sôi từ sự yêu thích những món đồ thủ công mỹ nghệ và các tác phẩm sơn mài cô nhìn thấy trên mạng xã hội. Trong môi trường học thuật, tình yêu ấy dần lớn lên dưới sự dẫn dắt của các thế hệ hoạ sĩ đi trước, của thầy cô và những người bạn đồng hành cùng khoa - nơi sơn mài không chỉ được học như một kỹ thuật, mà như một cách sống cùng chất liệu.

Công đoạn đầu tiên là làm vóc. Gỗ được bọc vải muslin, phủ nhiều lớp sơn sống trộn đất sét, mùn cưa rồi đưa vào buồng ủ kín ẩm. Mỗi lớp phải khô vừa đủ, được mài phẳng trước khi phủ lớp tiếp theo. Chỉ riêng phần nền cũng có thể kéo dài hàng tháng trời. Quỳnh chia sẻ rằng nếu vóc không “chín”, tranh sẽ không thể bền lâu; và chỉ một chút nóng vội cũng có thể khiến toàn bộ công sức phía sau đổ sông đổ biển.

Sơn sống - hay nhựa cây sơn ta (Toxicodendron succedaneum) - là nguyên liệu cốt lõi trong quá trình này. Đây là một loại nhựa tự nhiên quý giá nhưng cực độc khi chưa qua xử lý. Tiếp xúc trực tiếp có thể gây kích ứng da, nhẹ thì ngứa ngáy, nổi mẩn, mụn nước; nặng hơn có thể khiến mặt sưng phồng, sốt cao, lở loét, thậm chí phải nhập viện cấp cứu.

Thế nhưng để hoàn thiện một tác phẩm sơn mài, chính Quỳnh cũng từng buộc phải nhịn đau, mài sơn bằng đôi tay phồng rộp, cơ thể mệt mỏi và gương mặt sưng vù. Những tổn thương ấy vẫn chủ yếu là đau đớn thể xác. Ở các công đoạn tiếp theo, khi vóc đã hoàn chỉnh, cũng là lúc hoạ sĩ bắt đầu chồng các lớp màu - cũng là lúc họ phải tiếp xúc liên tục với hoá chất và kim loại nặng, thứ âm thầm ăn mòn sức khoẻ từ bên trong.

Theo những lời chia sẻ từ Quỳnh, trong sơn mài, ba sắc độ quan trọng là đỏ son, vàng và bạc.

Màu đỏ son truyền thống được chế tác từ khoáng vật thần sa (chu sa - mercuric sulfide), có sắc đỏ sâu và mạnh, nhưng là kịch độc. Việc tiếp xúc lâu dài với chu sa và lưu huỳnh có thể dẫn đến nhiễm độc thuỷ ngân, gây sưng răng lợi, run tay chân, mất vị giác, đau đầu kéo dài, lâu dần có thể dẫn tới rối loạn nội tiết, suy giảm chức năng gan và thận.

Bên cạnh đó, bột vàng và bột bạc mang lại ánh sáng lấp lánh đặc trưng của sơn mài cũng là một trong những nguyên nhân khiến sức khoẻ người hoạ sĩ suy giảm. Không phải kim loại nguyên khối, bột vàng và bạc được nghiền cực mịn, nhẹ như bụi phấn. Trong quá trình rắc, phủ và mài, những hạt kim loại li ti ấy dễ dàng bay lơ lửng trong không khí, bám vào da, tóc và xâm nhập trực tiếp vào đường hô hấp.

Ở giai đoạn đầu, việc hít phải bột kim loại có thể chỉ gây kích ứng mũi, họng, phế quản. Nhưng về trong thời gian dài, sự tích tụ các hạt kim loại trong phổi có thể dẫn đến khó thở mãn tính và tổn thương nghiêm trọng hệ hô hấp. Ngoài ra còn là các vấn đề về da như khô da, viêm da tiếp xúc, kích ứng mắt và viêm kết mạc.

Song hành với đó là việc sử dụng dung môi - dầu hoả. Dầu hoả được dùng để pha loãng sơn, làm sạch bề mặt, lau dụng cụ và điều chỉnh độ chảy của nét bút. Theo Quỳnh, đây là loại dung môi rất khó thay thế, bởi chỉ đặc tính hoá học của dầu hoả mới cho phép kiểm soát sơn ở mức độ phù hợp để đảm bảo hiệu quả tạo hình tối ưu.

Nhưng đi kèm sự tiện lợi ấy là những ngày làm việc trong trạng thái choáng nhẹ, đầu nặng, cổ họng khô rát. Có những buổi mài tranh kéo dài, Quỳnh nhận ra mình khó tập trung hơn, tay vẫn làm nhưng đầu óc như bị bao phủ bởi một lớp sương mỏng. Dầu hoả bay hơi nhanh, đặc biệt trong không gian xưởng kín và ẩm - môi trường quen thuộc của sơn mài. Những cơn đau đầu đến muộn và cảm giác mệt mỏi kéo dài thường bị nhầm lẫn với kiệt sức thông thường. Trên đôi tay Hoàng Quỳnh, dấu vết của dầu hoả hiện ra rõ rệt: da khô, nứt, dễ bong tróc sau những đợt làm việc liên tục. Dầu hoả làm sạch sơn, nhưng cũng cuốn đi lớp bảo vệ tự nhiên của da, khiến bàn tay nhạy cảm hơn với sơn ta và các hoá chất khác. Những vết rát nhỏ, nếu nhìn riêng lẻ thì không đáng kể, nhưng cộng dồn lại theo năm tháng.

TÌNH YÊU BỀN BỈ CHO SƠN MÀI CHÁY SÁNG

Dù con đường nhiều trắc trở là thế, Quỳnh vẫn gắn bó với sơn mài là bởi chất liệu này mang trong mình bản sắc rực rỡ của văn hoá và hội hoạ Việt Nam.  Sơn mài vốn khởi nguồn từ nghề sơn truyền thống, dùng để trang trí đồ nội thất, phủ đồ thờ, tượng tạc và hoành phi nhằm bảo vệ gỗ trước khí hậu nhiệt đới.

Về sau, các hoạ sĩ thế hệ đầu tại Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1925) - tiền thân của Trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam - đã nghiên cứu và phát triển sơn mài thành một loại hình hội hoạ độc lập. Dù nghệ thuật không có biên giới và sơn mài không phải của riêng Việt Nam, nhưng chỉ duy nhất Việt Nam là quốc gia đầu tiên nâng sơn mài từ một chất liệu thủ công mỹ nghệ lên một ngôn ngữ hội hoạ hoàn chỉnh. Đây cũng là điều khiến Quỳnh hết sức tự hào và là lí do khiến cô lựa chọn theo đuổi dòng tranh này.

Với Quỳnh, sơn mài hấp dẫn không chỉ bởi vẻ đẹp thị giác - vừa trầm sâu, óng ánh, tinh tế mà vẫn dễ chạm tới người xem - mà còn bởi sức hút tạo hình rất riêng, một ngôn ngữ thẩm mỹ gần như chỉ Việt Nam mới có. Càng đi sâu vào sơn mài, cô càng nhận ra đây là một thế giới rộng mở, nơi mỗi lớp sơn, mỗi lần mài đều mở ra những hiểu biết mới.

Để thực sự làm chủ sơn mài, người nghệ sĩ không chỉ cần kỹ năng tạo hình mà còn phải nắm vững kiến thức về hoá học, khí hậu, thời tiết và độ bền vật liệu - những yếu tố tưởng như nằm ngoài hội hoạ nhưng lại quyết định sự sống của tác phẩm. Chính sự phức tạp ấy đã mở ra cho Quỳnh một không gian khám phá dài lâu, nơi nghệ thuật không ngừng thách thức và nuôi dưỡng đam mê sáng tạo.

Đương nhiên, trong quá trình gắn bó với hội hoạ sơn mài, hoạ sĩ Hoàng Quỳnh chủ động đúc kết và áp dụng nhiều biện pháp nhằm hạn chế rủi ro về sức khoẻ của mình. Khi gặp tình trạng dị ứng sơn ta, Quỳnh sử dụng lá khế tươi, giã dập để bôi lên vùng da bị bỏng hoặc tắm bằng nước luộc lá khế nhằm làm dịu kích ứng; với các vết bỏng nặng hơn, Quỳnh dùng thuốc mỡ để giảm viêm. Để hạn chế bụi kim loại, cô lựa chọn bột vàng bạc xay sẵn, giảm thiểu công đoạn tự xay - vốn tiềm ẩn nhiều nguy cơ hít phải bụi mịn.

Thay vì tiếp xúc trực tiếp với sơn sống, Quỳnh mua vóc làm sẵn từ các làng nghề làm vóc. Việc tiếp xúc với chu sa cũng được kiểm soát bằng cách sử dụng sơn pha sẵn từ các tiệm uy tín tại các tiệm sơn như của bác Nguyễn Văn Bảng. Với dầu hoả, trong một số tác phẩm, cô lựa chọn dầu thông - dù giá thành đắt đỏ hơn và khó tạo hiệu ứng loang chảy đẹp như dầu hoả, dầu thông cũng vẫn là sự thay thế giúp giảm đáng kể việc tiếp xúc với hoá chất trong quá trình sáng tác.

Những đau đớn thể xác và tổn thương sức khoẻ không hiện diện trên bề mặt hoàn mỹ của tác phẩm, nhưng âm ỉ trong cơ thể người nghệ sĩ - qua từng nhịp thở, từng cơn đau đầu, từng vết sưng và mảng phồng rộp. Vì thế, vẻ đẹp lộng lẫy của sơn son thếp vàng, thếp bạc không chỉ được đánh đổi bằng kỹ thuật và tri thức, mà còn bằng sức khoẻ và những rủi ro không thể nhìn thấy ngay.

Sơn mài không chỉ hàm chứa vẻ đẹp tinh vi huyền ảo, mà còn ẩn giấu câu chuyện của tinh thần kính nghiệp và sự dấn thân bền bỉ của những người hoạ sĩ âm thầm mang trên vai lý tưởng cống hiến cho nghệ thuật truyền thống.


 

BÀI VIẾT:  MÂY | ẢNH:  TỔNG HỢP | BIÊN TẬP:  LÁ THU VÀNG | WEB:  LONG3020
BÀI VIẾT LIÊN QUAN
Triển lãm hoa đạo Nhật Bản “Gió Đông” tại Hà Nội TRIỂN LÃM HOA ĐẠO NHẬT BẢN “GIÓ ĐÔNG” TẠI HÀ NỘI THỊ GIÁC SỰ KIỆN Từ ngày 6 đến 8/3/2026, tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (66 Nguyễn Thái Học, Hà Nội), công chúng yêu nghệ thuật tại thủ đô có cơ hội ghé thăm không gian thẩm mỹ tinh tế với triển lãm Ikebana mang tên “Gió Đông” - sự kiện tôn vinh nghệ thuật hoa đạo Nhật Bản và tinh thần chiêm nghiệm trong đời sống đương đại.
Khổng Tước Dương Lệ Bình KHỔNG TƯỚC DƯƠNG LỆ BÌNH CẢM HỨNG THỊ GIÁC SỰ KIỆN Trong hơn bốn thập kỷ, Dương Lệ Bình không chỉ múa mà còn sống như một vũ công và tạo nên ảnh hưởng sâu rộng tới tư duy thẩm mỹ trong nghệ thuật múa đương đại Trung Hoa. Con đường của bà không bắt đầu từ kỹ thuật, mà từ sự quan sát tỉ mỉ những rung cảm thiên nhiên.
Hoa Thuỷ Tiên THUỶ TIÊN: THƯỚC ĐO TRI THỨC VÀ KHÍ CHẤT CỦA NGƯỜI HÀ THÀNH TƯ LIỆU VĂN HÓA THỊ GIÁC Giữa những nếp nhà cổ Hà Nội đầu thế kỷ XX, chăm sóc Thủy Tiên trở nên thịnh hành như một thú chơi thầm lặng, hàm nghĩa của tầng lớp trí thức và tư sản Hà thành mỗi độ Tết đến xuân về.
Gravure Idol GRAVURE IDOL/MODEL: "THẦN TƯỢNG ÁO TẮM" NGHĨA LÀ GÌ? CUỘC SỐNG GÓC NHÌN THỊ GIÁC Từ những trang tạp chí in bóng loáng cho tới không gian số của mạng xã hội, gravure idol (thần tượng áo tắm) và gravure model đã tồn tại như một hiện tượng đặc thù của văn hoá giải trí Nhật Bản.
NGỠ ĐÔNG "NGỠ ĐÔNG": CUỘC TAO NGỘ CỦA BẢY NGHỆ SĨ TẠO HÌNH THỊ GIÁC SỰ KIỆN Nhân dịp đầu năm 2026, triển lãm “Ngỡ Đông” giới thiệu các tác phẩm của bảy nghệ sĩ tạo hình tại 16 Ngô Quyền, Hà Nội. Với sơn mài là chất liệu chủ đạo, bên cạnh sơn dầu và điêu khắc, triển lãm mang đến một không gian thưởng lãm giàu cảm xúc, gợi nhiều suy ngẫm về sự tinh tế của nghệ thuật tạo hình.
VINCENT VAN GOGH: MẤT CÁI TAI LÓ CÁI TÀI VINCENT VAN GOGH: MẤT CÁI TAI LÓ CÁI TÀI TƯ LIỆU THỊ GIÁC Đêm 23/12/1888, trong căn nhà vàng ở Arles (Pháp), Vincent van Gogh tự cắt đi một phần tai trái của mình. Hành động gây sốc ấy nhanh chóng vượt ra khỏi phạm vi đời tư, trở thành giai thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử nghệ thuật hiện đại.
Vương Gia Vệ VƯƠNG GIA VỆ: TÍNH MỸ HỌC CỦA NGHỆ THUẬT TƯƠNG PHẢN ĐIỆN ẢNH THỊ GIÁC Vương Gia Vệ được xem là một trong những tượng đài của điện ảnh Hong Kong thập niên 1990, với những thước phim kinh điển mang vẻ đẹp đượm chất thơ mà thấm đẫm tính “đời”.
Triển lãm sonta LỜI THÌ THẦM CỦA SƠN: TRIỂN LÃM SƠN MÀI CỦA NHÓM HOẠ SĨ SONTA VĂN HÓA THỊ GIÁC SỰ KIỆN Từ ngày 9 đến 20.12.2025, tại Artera Space (Tầng 3, 115 Nguyễn Thái Học, Hà Nội), triển lãm sơn mài “Lời thì thầm của Sơn” chính thức mở cửa, giới thiệu tới công chúng những sáng tác của nhóm hoạ sĩ SonTa.
Bùi Xuân Phái DANH HOẠ BÙI XUÂN PHÁI: "ÔNG VUA PHỐ CỔ" VĂN HÓA THỊ GIÁC Trong lịch sử mỹ thuật Việt Nam hiện đại, hiếm có họa sĩ nào gắn bó với một không gian đến mức chỉ cần nhắc tên đã gợi ra hình ảnh của cả một thành phố. Với Bùi Xuân Phái, đó là Hà Nội - cụ thể hơn, là những con phố cũ kỹ, chật hẹp, trầm mặc của khu phố cổ. Chính điều ấy khiến hậu thế gọi ông bằng một danh xưng vừa gần gũi vừa trang trọng: “ông vua phố cổ”.
Linh Vếp MUỐN CẮT TÓC, TRƯỚC TIÊN PHẢI HỌC QUÀNG KHĂN THỊ GIÁC Ở tuổi 28, Vũ Thạch Linh đã có tám năm gắn bó với nghề tóc, một công việc tưởng chừng đơn giản, nhưng lại là thế giới rộng lớn của kỹ thuật, hình khối và cảm nhận thẩm mỹ.
C O O K O O