KHỔNG TỬ BỊ LỢI DỤNG SUỐT 2.000 NĂM?
KHỔNG TỬ BỊ LỢI DỤNG SUỐT 2.000 NĂM?
Trong suốt hai thiên niên kỷ, trọng nam khinh nữ được xem như quy chuẩn đời thường của xã hội dựa theo lời dạy của Khổng Tử - một chân lý tuyệt đối để trói buộc phụ nữ vào vòng phục tùng. Nhưng trớ trêu thay, Khổng Tử thực chất không hề tạo ra chiếc gông này. Vậy vì sao lịch sử lại kiên trì khoác nó lên vai một nhà hiền triết?
Khổng Phu Tử (551-479 TCN) là triết gia có ảnh hưởng sâu rộng nhất thời Xuân Thu - Chiến Quốc. Hệ thống tư tưởng mà ông đặt nền móng, về sau được gọi là Nho giáo, đã cắm rễ vào văn hoá, giáo dục, chính trị và đời sống xã hội không chỉ ở Trung Hoa mà còn ở các nước Đông Á, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng thống trị trong nhiều thế kỷ, đặc biệt dưới triều Hậu Lê (1428-1527) và Nguyễn sơ (1802-1883).

Gác lại những đóng góp của Khổng Tử trong việc chuẩn hóa trật tự xã hội và định hình đạo đức thời đại, một thực tế vẫn gây tranh luận: Nho giáo - và đôi khi chính Khổng Tử - thường bị coi là nguồn cội của bất bình đẳng giới trong xã hội Á Đông.
Bài viết này không “bênh vực” hay “kết tội” Khổng Tử, mà để xem xét lại hai luận điểm quan trọng nhất thường được viện dẫn để chứng minh rằng Nho giáo cổ vũ cho việc miệt thị phụ nữ. Một dựa trên Luận Ngữ - tác phẩm được cho là tái hiện tư tưởng Khổng Tử một cách chân thực nhất; một thuộc Lễ Ký - tác phẩm hậu Khổng Tử được Nho gia dùng để “yên trị” xã hội.
Định kiến: Phụ nữ ngang hàng “tiểu nhân”
Trong Luận Ngữ, thiên thứ mười bảy - Dương hoá, điều thứ 25, Khổng Tử nói:
“Duy nữ tử dữ tiểu nhân vi nan dưỡng dã; cận chi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán.”
(唯女子與小人為難養也)
Dịch nghĩa: Chỉ có nữ tử và kẻ tiểu nhân là khó bề đối xử; gần gũi thì họ vô lễ, mà xa lánh thì họ oán hận.


Đây là câu nói đã khiến triệu triệu phụ nữ qua nhiều triều đại tại các nước chịu ảnh hưởng từ nền văn hoá Đông Á bị quy vào nhóm ngang hàng với kẻ “tiểu nhân”, “khó dạy”, “khó quản”, “phải đề phòng”. Một nửa xã hội bị đàn áp, tước đi quyền được tôn trọng một cách đầy rõ ràng.
Định kiến này đã lan rộng vượt cả bối cảnh lịch sử, ăn sâu vào tiềm thức phong kiến và ngay cả thời hiện đại ngày nay, câu chỉ trích “Thằng đàn bà!” mang hàm ý chửi rủa một kẻ tiểu nhân, hẹp hòi đã trở thành câu cửa miệng của nhiều người Việt. Ấy chính là một phần di sản để lại của tư tưởng trên, khi sự miệt thị trở thành điều nghiễm nhiên mà chính cả những người phụ nữ trong thời đại mới cũng cảm thấy “Thằng đàn bà!” là câu nói bình thường.
Nhiều học giả giải minh cụm từ chỉ phụ nữ - “nữ tử” (女子) trong câu nói của Khổng Tử là chỉ “tỳ thiếp” (từ mà dịch giả Mặc Am sử dụng trong cuốn Luận Ngữ), ý nói người trong hậu cung thời phong kiến chứ không phải chỉ mọi phụ nữ.
Tuy nhiên, nhiều quan điểm cho rằng nếu một câu nói chỉ “bị hiểu nhầm”, thì đáng lẽ việc giải nghĩa đã được điều chỉnh qua các triều đại, qua hàng nghìn bản chú giải của Hán - Đường - Tống - Minh - Thanh. Nhưng thực tế hoàn toàn ngược lại: cách hiểu miệt thị phụ nữ lại được tái khẳng định, củng cố, và lan rộng.
Tôi không phải Khổng Tử, sẽ không suy đoán ông ta nghĩ gì lúc nói ra câu này mà sẽ lập luận một cách khách quan rằng để lý giải như sau:
Bản thân Khổng Tử có lẽ không hẳn có ý miệt thị phụ nữ. Trên thực tế, vào thời nhà Chu, “nữ tử” (女子) đúng là chỉ mang nghĩa hẹp là “tỳ thiếp” chứ không phải phụ nữ nói chung.
Các thời đại sau này nghĩa của từ “nữ tử” (女子) được mở rộng ra nhưng không được chú giải, bởi một vài nguyên do chính đến từ việc sự “hiểu nhầm” này là công cụ hữu hiệu để phục vụ quyền lực gia trưởng. Và vô tình, bức tường triết học - Khổng Tử bị đưa ra làm công cụ để hợp thức hoá trật tự nam tôn nữ ti - đàn ông trên phụ nữ dưới.
Ngoài ra, lí do có lẽ còn đến từ việc phụ nữ không được trao quyền đối thoại với kinh điển thời bấy giờ mà chỉ có đàn ông mới được chú giải kinh điển Nho giáo. Việc không có quan điểm nào phản biện, mà chỉ tuân theo trong các giáo lý Nho giáo được tinh chỉnh sau này là chính bởi phụ nữ đã bị gạt ra khỏi “sân chơi” ngay từ ban đầu, bắt đầu từ việc không được đi học - quyền bình đẳng về cơ hội cực kì quan trọng dẫn tới việc quyền bình đẳng trước pháp luật và quyền được thụ hưởng cũng bị tước đi vì “có học đâu mà biết”.
Do đó, “khép tội” cho Khổng Tử là điều không khách quan vì Khổng Tử có lẽ cũng chỉ là “sản phẩm” kế thừa lại di sản của các thời đại trước đó, cấu thành do tập quán, luật lệ, mô hình sản xuất nông nghiệp mà ở đó đàn ông “có ích” hơn phụ nữ và chế độ phụ hệ đương thời. Nên nhớ, Khổng Tử “tường thuật” chứ không “sáng tác” (thuật nhi bất tác) các văn điển cũng như lý luận cổ được lưu truyền trong Tứ thư Ngũ Kinh.
Vì thế, ta không nên quy chụp Khổng Tử là “ông tổ” của hệ thống phân biệt giới tính trong văn hoá Á Đông chỉ vì ông ta là một triết gia có sức ảnh hưởng lớn mà không phải một nhà cách mạng tư tưởng. Suy cho cùng khó có ai có thể mặc quần áo khi tất cả mọi người đều cởi truồng.
Tam tòng: Phụ nữ cả đời phải “theo”
Trong Lễ ký hay Kinh Lễ, thiên Giao đặc sinh, gắn liền với tư tưởng của Nho giáo ghi chép về khái niệm “tam tòng”:
“Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử.”
(婦人,從人者也;幼從父兄,嫁從夫,夫死從子)
Dịch nghĩa: Ở nhà theo cha, lấy chồng theo chồng, chồng chết theo con.

Đặc mùi tư tưởng trọng nam khinh nữ, ghi chép về quan điểm này cho thấy phụ nữ thời bấy giờ bị công khai tước đoạt mọi quyền tự chủ (thuộc quyền bình đẳng về cơ hội) khi phụ nữ không được coi là “người tự chủ”, chỉ là “tệp đính kèm”, thậm chí là tài sản thuộc về nam giới trong mỗi giai đoạn của đời sống. Chính họ không được phép đưa ra bất cứ sự lựa chọn nào về hôn nhân, tài sản, nghề nghiệp, đời sống tinh thần mà cả đời phải tuân theo lựa chọn của cha - chồng - con.
Câu nói này thiết lập hệ thống gia trưởng, củng cố cấu trúc xã hội mà nam giới giữ quyền lực tuyệt đối, phụ nữ bị định vị ở tầng thấp nhất.
Ở góc độ này, tôi xin phép biện giải thay cho Khổng Tử bằng lập luận dưới đây.
Trong Luận Ngữ - văn bản duy nhất được xem là gần nhất với lời dạy của Khổng Tử - không hề xuất hiện khái niệm “tam tòng” mà chỉ có triết lý chính danh nổi tiếng của ông: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” - điều được cho là nền tảng của “tam tòng” nhưng thực chất là chẳng liên quan gì lắm đến “tam tòng” xét về cả ý nghĩa và hàm nghĩa của câu từ. Câu nói này chỉ nhấn mạnh trật tự và bổn phận mỗi người trong xã hội.
Vậy vì sao “tam tòng” lại được gắn vào tên của Khổng Tử?
Bởi có lẽ từ thời Hán, Nho giáo được nhà nước biến thành ý thức hệ thống trị. Để hợp thức hóa trật tự gia trưởng, các Nho gia đã hệ thống hóa, sửa đổi và bổ sung nhiều giáo điều vào Lễ Ký. Gắn chúng vào tên Khổng Tử - biểu tượng đạo đức tối cao. Như vậy, Khổng Tử có lẽ chỉ là bị hậu thế “lôi ra” làm khiên chắn, để giúp các quy phạm xã hội mới có tính chính thống và quyền lực tuyệt đối hơn.
Tóm lại, Khổng Tử không phải người tạo ra “xiềng xích” với phụ nữ, chỉ là hậu thế dùng tên ông trong suốt 2.000 năm để hậu thuẫn cho tư tưởng phân biệt giới tính đầy cực đoan này.
Và những ai ngày nay còn dùng tư tưởng Nho giáo và Khổng Tử để biện minh cho sự miệt thị phụ nữ - hoặc là người vô học, hoặc là người học chưa tới nơi tới chốn.