HỒ XUÂN HƯƠNG: RANH GIỚI
MONG MANH GIỮA TRỮ TÌNH HOẶC DÂM TỤC
HỒ XUÂN HƯƠNG: RANH GIỚI
MONG MANH GIỮA TRỮ TÌNH HOẶC DÂM TỤC
Hồ Xuân Hương (1772-1822) - nữ sĩ nổi tiếng của văn học Việt Nam - từ lâu đã trở thành biểu tượng vượt thời gian, vượt chuẩn mực cho tiếng nói nữ quyền, tinh tế nhưng cũng đầy khiêu khích. Trong mỗi câu thơ của bà, người đọc vừa cảm nhận được sự mượt mà, trữ tình của ngôn từ, vừa bị kích thích bởi những tầng ý nghĩa ẩn dụ, gợi cảm mà đôi khi vượt ra ngoài chuẩn mực đạo đức thời bấy giờ. Cái tên Hồ Xuân Hương vì thế luôn gắn liền với câu hỏi: Ranh giới giữa trữ tình và dâm tục thực sự mong manh đến mức nào?


Những tác phẩm nổi tiếng như Bánh trôi nước, Lời sấm của phụ nữ, hay Quả phụ đều cho thấy khả năng chơi chữ và dẫn dụ người đọc đến những tầng nghĩa tinh tế của Hồ Xuân Hương. Trữ tình trong thơ bà không chỉ nằm ở vẻ đẹp thiên nhiên hay cảm xúc cá nhân, mà còn được ẩn trong những hình ảnh đời thường, quen thuộc nhưng được biến hóa để tạo ra sự gợi cảm đầy ẩn ý. Chính kỹ thuật chơi chữ, ẩn dụ và phép đối ngẫu khiến người đọc vừa ngỡ ngàng, vừa phải suy ngẫm về thông điệp ẩn sau lời thơ.
KHI TRỮ TÌNH GẶP GỢI DỤC
Điều làm nên sự khác biệt của Hồ Xuân Hương so với các thi sĩ cùng thời, theo tôi, nằm ở sự nổi loạn và tính táo bạo qua những hình ảnh thơ thẳng thắn, trần trụi, mạnh mẽ, bất cần - những điều mà chẳng một ai có thể làm được vào thời bấy giờ.
Nhà văn Nguyễn Hữu Tiến (Tác giả cuốn Giai nhân di mặc - Sự tích và thơ từ của Hồ Xuân Hương) gọi Hồ Xuân Hương là tài nữ giận thân phận đời. Góc nhìn này của ông đã mở ra cả một câu chuyện đi liền với thân thế và cuộc đời của nữ thi sĩ qua những tác phẩm của bà.


Hậu thế có thể thấy được tiếng thở dài của nữ thi sĩ cho cuộc đời của chính bà - cũng là tiếng nói nhiều người phụ nữ cùng thời.
“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung” - (Làm lẽ)

hay
“Cả nể cho nên hoá dở dang.
Sự này có thấu hỡi chăng chàng.
Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc,
Phận liễu sao mà nảy nét ngang
Cái tội trăm năm chàng chịu cả,
Chữ tình một khối thiếp xin mang.
Quản chi miệng thế lời chênh lệch
Chẳng thế, nhưng mà thế, mới ngoan.” - (Chửa hoang)


Sau khi goá Ngài Tổng Cóc hay Phó tổng Nguyễn Bình Kình, Hồ Xuân Hương làm vợ lẽ của Ngài Đồng Tri phủ Vĩnh Tường ít lâu trước khi Ngài Tri phủ bị xử trảm. Về sau, Hồ Xuân Hương đã có rất nhiều bạn tình khác nhau, nổi bật trong đó là Đại thi hào Nguyễn Du. Cuộc đời chìm nổi của Hồ Xuân Hương có lẽ là yếu tố chính tạo nên những tác phẩm khác người của bà. (Hoàng Xuân Hãn; Thiên tình sử Hồ Xuân Hương, NXB Văn học 1995)


"Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son." - (Bánh trôi nước)
Cái tục trong thơ bà không hẳn là tục tĩu; nó là sự thách thức, đôi khi là phản kháng, với chuẩn mực xã hội, với lề luật gia trưởng. Chẳng hạn, trong bài thơ Bánh trôi nước, hình ảnh viên bánh trôi nhỏ, tròn và trôi nổi trên nước “Thân em thời trắng phận em tròn” không chỉ gợi cảm giác mềm mại, mà còn tượng trưng cho thân phận người phụ nữ, sự lưu lạc và cả khát vọng tình yêu “Bảy nổi ba chìm mấy nước non”.


Ngoài sắc thái tủi hờn hay lên án xã hội đương thời, đôi khi hậu thế còn được diện kiến một Hồ Xuân Hương rất hồn nhiên.
“Vén đám mây lên tỏ mặt trời
Lác coi từng đám rõ từng nơi
Giang sơn đâu đó nhô đầu dậy
Hoa cỏ quen hơi mỉm cười”
(GS Kiều Thu Hoạch: Bài thơ Nôm được chép kèm lời dẫn Cô Xuân Hương đến Hà Nội, đi đường sẩy chân ngã tốc váy, tự làm thơ)
Thơ bà trêu đùa, nhấn mạnh đến dục tính, nhưng đồng thời lại luôn giữ được sự tinh tế và hài hước - một sự cân bằng khó tìm mà chỉ nữ sĩ tài hoa mới thực hiện được.
RANH GIỚI MONG MANH GIỮA TRỮ TÌNH VÀ DÂM TỤC
Sự mong manh này - giữa trữ tình và dâm tục - là điều khiến thơ Hồ Xuân Hương trở nên bất tử. Nó mở ra không gian tự do cho người đọc, buộc họ phải tự cảm nhận, tự lý giải và đối thoại với tác phẩm.
Có lẽ chính cái gợi, cái tục là lí do khiến quần chúng, đặc biệt là người lao động nghèo và người nông dân ưa thích rồi truyền tụng thơ của bà. Thơ của Hồ Xuân Hương không chỉ gần gũi mà còn là tiếng nói cho những người phụ nữ đương thời. Mượn thơ của bà, ta có thể thấy được quan niệm tam tòng tứ đức, trọng nam khinh nữ đã gây ra nhiều đau thương, bất công với người phụ nữ trong xã hội cũ như thế nào.


Trong thơ Hồ Xuân Hương, trữ tình không phải phải cái đẹp mỹ miều, cái ngây thơ trong sáng, mà có chăng là sự thật, là châm biếm, khiêu khích, và phản kháng. Dâm tục không phải sự tầm thường hay thô tục, mà là công cụ để làm nổi bật những bất công, những giới hạn và khuôn phép áp đặt lên phụ nữ trong xã hội phong kiến.
Vậy, tôi hết sức tán thành nhận định của tác giả Nguyễn Thế Duyên rằng thơ Hồ Xuân Hương trong thanh có tục, trong tục có thanh.
Hồ Xuân Hương là một minh chứng sống động cho việc thơ ca không chỉ để ngợi ca cái đẹp trong đời sống mà còn để khai mở tư duy, để lên án và phản kháng. Nữ sĩ đã mở ra một hướng đi độc lập giúp nữ giới có quyền nói trong văn học đương đại - từ những điều nhỏ bé, đời thường đến những vấn đề lớn lao, nhạy cảm. Ranh giới giữa trữ tình và dâm tục, vì thế, không còn chỉ là một phép ẩn dụ trong văn học mà trở thành biểu tượng cho tiếng nói cá nhân, tự do và quyền sống của phụ nữ.